Architekt Ngo Viet Thu: Modern und trotzdem mit Geschichte
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: Xây mới mà vẫn giữ cái cũ
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Van Hoa Xa Hoi.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/18
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: Xây mới mà vẫn giữ cái cũ
Từ Dinh Độc Lập đến những công trình ở Huế và Đà Lạt: Ngô Viết Thụ không chỉ để lại các biểu tượng hiện đại. Ông còn cho thấy một cách ứng xử với cái cũ: hiện đại hóa, nhưng không xóa đi lịch sử.
Trong lịch sử kiến trúc Việt Nam thế kỷ 20, cái tên Ngô Viết Thụ (1926 - 2000) có vị trí rất quan trọng. Ông gắn liền với những công trình mang tính biểu tượng. Người ta nhớ đến ông bởi những đường hình học dứt khoát, những khối lớn và ngôn ngữ kiến trúc hiện đại, mạch lạc. Trong các công trình của ông còn thấy một chủ đề xuyên suốt: kiến trúc hiện đại không nhất thiết phải đối lập với lịch sử, cảnh quan và cái cũ.
Xây mới, nhưng không xóa cái cũ
Có một chi tiết ít người biết: năm 1962, Dinh Norodom, tức Dinh Độc Lập cũ, bị hư hại nặng vì bom. Suy nghĩ thông thường của kiến trúc sư là phá bỏ cái cũ để xây thứ hoàn toàn mới. Nhưng Ngô Viết Thụ không làm vậy. Phương án đầu tiên của ông muốn cứu lấy di sản: cải tạo, làm tốt hơn công năng và chồng thêm tầng trên kết cấu cũ. Chỉ khi các kỹ sư khẳng định ghép cũ với mới sẽ không an toàn, người ta mới đành chọn xây mới.
Cuộc thi thiết kế Dinh Độc Lập mới diễn ra ngay trong năm đó. Nó cho thấy tầm vóc của ông. Trong 15 đồ án, có tới 14 vẫn mắc kẹt trong quá khứ. Các đồ án ấy còn dùng cột cổ điển hay phong cách Đông Dương dè dặt. Chỉ duy nhất một đồ án đi theo kiến trúc hiện đại. Đó là đồ án của Ngô Viết Thụ. Dinh Độc Lập từ đó mà thành hình. Nó không chỉ là một đỉnh cao: nó gắn triết lý phương Đông với công năng phương Tây. Nó còn là một cú hích đưa Việt Nam tiến về hiện đại hóa.
Dinh Độc Lập là một thử nghiệm quan trọng. Nó gắn kiến trúc hiện đại với văn hóa và khí hậu Việt Nam. Công trình cho thấy: hiện đại hóa không có nghĩa là quên sạch những giá trị của quá khứ.
Đó cũng là chìa khóa để hiểu các công trình khác của Ngô Viết Thụ.
Dấu ấn ở Sài Gòn, Huế và Đà Lạt
Sự nghiệp của Ngô Viết Thụ trải dài ở nhiều nơi. Nhưng Sài Gòn, Huế và Đà Lạt thể hiện rõ nhất cách ông gắn công trình với nơi chốn.
Ở Sài Gòn - nay là Thành phố Hồ Chí Minh - Dinh Độc Lập, nay là Hội trường Thống Nhất, không đứng một mình. Nó là trung tâm của một "tứ giác di sản". Ranh giới là các đường Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Cảnh / Thị Nghè, Lê Thánh Tôn và Cách Mạng Tháng 8. Trong lõi lịch sử này, 80-90% công trình di sản vẫn còn được giữ. Tác phẩm của ông cho thấy một nguyên tắc vàng: kiến trúc biểu tượng không bao giờ tách khỏi cảnh quan. Nó phải biết lùi lại, biết sống chung và cùng thở với thành phố.
Ở Huế, quê hương ông, Ngô Viết Thụ để lại dấu ấn ở các công trình bên bờ nam sông Hương. Chẳng hạn Đại học Sư phạm Huế, khách sạn Hương Giang và Khoa Văn. Những công trình này thuộc về một lớp hiện đại. Lớp ấy đứng cạnh kiến trúc Pháp và kiến trúc cũ của kinh đô.
Điều quan trọng ở đây không phải Ngô Viết Thụ đã "đoán trước" tương lai của Huế. Điều quan trọng là: công trình của ông cho thấy một ký ức khác của thành phố, ký ức của thế kỷ 20, bên cạnh di sản kinh đô từ thế kỷ 19.
Còn Đà Lạt, vùng đất ông yêu mến, ông để lại hai ví dụ quy hoạch kinh điển. Với chợ Đà Lạt, ông không dựng một cái hộp thương mại. Ông tổ chức không gian bằng cầu cao, phố đi bộ và mở tầm nhìn ra hồ Xuân Hương. Với Viện Nghiên cứu Hạt nhân, các chuyên gia Mỹ muốn đặt một khối vuông sắc cạnh lên đồi thông. Ngô Viết Thụ phản đối quyết liệt. Cái cứng nhắc ấy như một nhát cắt vào thiên nhiên. Nhờ ông, công trình thành một tổ hợp mềm mại. Nó nép mình khiêm tốn dưới những rặng thông xanh.
Từ di sản đến quy hoạch đô thị hôm nay
Vì thế, di sản của Ngô Viết Thụ vượt ra ngoài từng công trình riêng lẻ. Trong một cuộc trao đổi nhân 100 năm ngày sinh của ông, các công trình của ông được đặt trong bối cảnh: đô thị Việt Nam hôm nay đang chịu sức ép. Các thành phố vừa phải lớn lên, vừa phải tổ chức lại không gian.
Bài học từ Paris, London và Tokyo là: lõi lịch sử cần được bảo vệ. Sự phồn vinh và nhà chọc trời phải đi ra bên ngoài. Người ta lập các thành phố vệ tinh đa trung tâm. Nhờ vậy ký ức đô thị mới có chỗ để thở.
Với Huế: nếu bờ bắc sông Hương là linh hồn của kiến trúc kinh thành thế kỷ 19, thì bờ nam là bảo tàng sống của kiến trúc thế kỷ 20. Ở đó kiến trúc Pháp nửa đầu thế kỷ hòa với kiến trúc của người Việt nửa sau thế kỷ. Lấy bờ nam làm vùng bảo vệ sẽ giữ được lịch sử ấy. Nó tạo thế cân bằng khi Huế phát triển mạnh về hướng Lăng Cô và đầm phá.
Với Đà Lạt, ranh giới ấy còn cấp bách hơn. Bờ nam hồ Xuân Hương mang dấu ấn di sản Pháp. Bờ bắc (khu Hòa Bình, chợ Đà Lạt) là ký ức khó quên về đô thị của người Việt. Vì vậy, đề xuất chuyển trung tâm hành chính của tỉnh về Đức Trọng không chỉ là cách giảm người và giảm hạ tầng. Nó là một lời xin lỗi với thiên nhiên. Nó trả lại cho Đà Lạt căn tính của mình: một thành phố di sản và một thành phố thiên nhiên để nghỉ dưỡng.
