Gewächshäuser auf steilen Hügeln: Flut und Durst
Nhà kính trên đồi dốc: vừa ngập vừa khát
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Nen Tang Kien Tao.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/17
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Nhà kính trên đồi dốc: vừa ngập vừa khát
Nhiều nhà kính dựng trên đồi dốc, như ở Đà Lạt, đang gây ra vấn đề lớn. Đất không còn tự giữ và điều tiết được nước. Hệ quả là một nghịch lý cay đắng: mùa mưa thì ngập lụt khắp nơi, mùa khô lại không đủ nước tưới cây.
Tự nhiên vốn vận hành miễn phí khi hệ sinh thái còn khỏe. Đất mới tự hình thành, đạm tự được cố định, nước tự được điều hòa, đất tự được giữ chặt, dinh dưỡng tự luân chuyển và sâu bệnh tự được kìm hãm.
Nhà kính đảo ngược hoàn toàn quá trình đó. Mọi chức năng tự nhiên đều bị chặn lại. Thay vào đó, nông dân phải mua mọi thứ: phân hữu cơ, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, màng nilon, bẫy côn trùng. Lúc đầu rủi ro thấp, hiệu quả thấy ngay. Vì vậy ngày càng nhiều người đổ tiền đầu tư, trồng liên tục hết vụ này đến vụ khác, nhất là ở vùng rau nổi tiếng như Đà Lạt, những năm gần đây thêm Sơn La, Hà Nội, Vĩnh Phúc và nhiều nơi khác.
Nhưng kiểu canh tác khép kín với mật độ dày đặc này để lại ba hậu quả nặng nề, kéo dài.
Khi nhà kính phá vỡ dòng nước của cả vùng
Một nhà kính 1.000 đến 2.000 mét vuông riêng lẻ không gây lụt. Nhưng hàng nghìn nhà kính chụm lại sẽ bịt kín cả sườn đồi. Quả đồi biến thành một cái sân khổng lồ không còn lỗ thấm. Nước mưa không xuống được đất. Thiệt hại do mưa bão sau đó cả xã hội phải gánh.
Các nghiên cứu về nước cho thấy: chỉ cần 50% diện tích bị bịt kín, nước chảy tràn trên mặt đã nhanh gấp 3 đến 5 lần so với đất tự nhiên có cây phủ. Kéo theo xói mòn, bùn cát cũng tăng mạnh. Dòng chảy càng lúc càng dữ, đất càng bị bào mòn nhanh.
Theo mô hình của Schueler: khi trên 25 đến 50% diện tích bị bịt kín, cả vùng đã ốm. Sông suối bị phá hỏng, lũ quét xảy ra thường xuyên. Vượt quá 50%, dòng chảy toàn vùng trở nên nguy hiểm. Đất mất hẳn khả năng tự điều tiết nước. Ở Đà Lạt, nhà kính tại Ward 12 cũ đã chiếm tới 84% diện tích canh tác. Ở các Ward 5, 7 và 8 cũ, tỷ lệ này cũng trên 60%.
Làm nhà kính trên đồi phải san phẳng đất, bóc bỏ lớp mặt. Mà chính lớp đất tơi xốp trên cùng mới giữ nước. Nhà kính nằm trên sườn dốc, trong thung lũng hay sát suối nguy hiểm hơn nhiều so với nhà kính trên đất bằng, xa nguồn nước. Mái nilon hay kính trơn tuột, mưa không thấm xuống đất mà dồn vào rãnh rồi đổ ập xuống dốc. Nước cuốn theo bùn cát, phá nát đất đai. Vì thế ở Đà Lạt chỉ cần mưa nhỏ đã ngập. Có khi mưa không lớn mà vùng trũng sâu vẫn chìm trong nước. Đơn cử có lần chỉ 23 mm mưa trong 24 giờ mà các thung lũng sâu vẫn ngập nặng.
Sau những trận mưa lớn, nước ở Đà Lạt có lúc ngập tới yên xe máy trong các hẻm nhỏ.
Ngược lại, mưa không thấm xuống đất thì mạch nước ngầm không được bổ sung. Đó chính là nghịch lý đau đớn: mùa mưa thì lụt, mùa khô lại thiếu nước tưới. Đào mương bê tông to hơn cũng vô ích. Mương chỉ đẩy nước đi nhanh hơn, chứ không đưa nước trở lại lòng đất.
Hà Lan, Israel và Tây Ban Nha cũng có rất nhiều nhà kính, nhưng hậu quả không nặng như ở Việt Nam. Nghiên cứu tại Piana del Sele ở Italy và Almeria ở Tây Ban Nha cho thấy nhà kính dày đặc làm thay đổi lớn đường đi và nơi tích trữ nước của cả vùng. Nhưng khác biệt lớn nhất nằm ở địa hình: Piana del Sele và Almeria gần như bằng phẳng, còn Đà Lạt toàn đồi và dốc đứng.
Hậu quả thứ hai đánh thẳng vào đất bên trong nhà kính: đất bị mặn, bị chết, thuốc bảo vệ thực vật mất tác dụng. Không có mưa rửa trôi, muối tích lại. Nông dân lại bón nhiều phân hơn hẳn ngoài trời. Nitrat và các loại muối khác nằm lì trong đất. Đất hóa mặn, rễ không hút được nước. Cùng một luống, bà con trồng đi trồng lại một loại cây trong thời gian ngắn, như cúc, xà lách, ớt chuông hay cà chua. Mầm bệnh và giun nhỏ trong đất cứ thế tồn tại. Phải khử trùng đất, nhưng cách này giết luôn cả vi sinh vật có lợi. Đất mất cân bằng, bệnh quay lại rất nhanh. Trong nhà kính nóng ẩm, sâu bệnh sinh sôi mạnh. Nông dân phải dùng thêm thuốc. Sâu bệnh kháng thuốc, người làm tiếp xúc hóa chất nhiều hơn. Càng nhiều nhà kính, thiên nhiên và đa dạng sinh học càng thu hẹp. Ít thiên địch, ít côn trùng thụ phấn. Từ đó hình thành vòng luẩn quẩn: tự nhiên suy yếu, trồng ngoài trời khó hơn, nông dân lại cần thêm nhà kính, phân bón và hóa chất. Cuối cùng đất trong nhà kính kiệt quệ. Nông dân rơi vào bẫy chi phí: chức năng tự nhiên nào cũng phải mua bằng tiền, mà chi phí ngày càng leo thang.
Tư duy mới và quy định mới
Không thể dỡ bỏ hết nhà kính ngay lập tức. Nhưng phải chặn lũ lụt và xói mòn. Vì vậy cần thay đổi cách nghĩ về nhà kính.
Giải pháp quan trọng nhất: ai cũng phải tự giữ nước của mình. Mỗi nhà kính cần bể hoặc ao chứa nước mưa từ mái. Dung tích bao nhiêu tùy diện tích mái và lượng mưa của vùng. Ví dụ ở Hà Lan quy định: tối thiểu 500 mét khối bể chứa cho mỗi hecta nhà kính. Cách này biến nghĩa vụ thành lợi ích: mùa khô nông dân có nước tưới miễn phí.
Nhưng lưu ý: trên đất dốc, trữ nước sai cách có thể gây sạt lở. Nước rò từ ao thấm vào sườn đồi sẽ làm tăng áp lực trong đất, khiến sườn đồi mất ổn định. Vì vậy bể chứa cần quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt: bể phải chống thấm, ví dụ lót bạt HDPE. Phải có tràn khẩn cấp dẫn ra kênh kiên cố. Và không được làm bể nếu độ dốc quanh bể trên 15%.
Cũng cần rãnh cỏ giữa các nhà kính: giữa các dãy phải có rãnh trồng cỏ rễ sâu, rậm, ví dụ cỏ Vetiver. Trên sườn dốc, cỏ làm dòng nước chậm lại, chia nhỏ dòng chảy, giữ bùn cát. Mục tiêu không phải dồn thật nhiều nước thấm xuống một chỗ. Dốc càng đứng, càng phải phân tán nước và dẫn ra ngoài an toàn. Như vậy đất mới vững, không bị sạt.
