Isaac Newton: Ein Genie ohne zehn Jahre Training
Isaac Newton: Thiên tài không cần mười năm khổ luyện
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Ho So Nhan Vat.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/19
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Một thiên tài trẻ tuổi
Ở tuổi 23, Isaac Newton còn chưa có nổi mười năm được đào tạo về khoa học. Vậy mà ông đã có ba phát hiện lớn, làm thay đổi cả toán học, vật lý và quang học.
Một nghiên cứu mới cho thấy Newton không chỉ làm việc rất nhanh. Cách làm việc của ông cũng hoàn toàn khác các nhà khoa học khác. Nhưng ông còn vướng một lời chỉ trích: có ý kiến cho rằng ông đã sao chép ý tưởng của người khác.
Một ngoại lệ hiếm có
Năm 1989, nhà tâm lý học John Hayes đưa ra quy tắc mười năm. Theo đó, người làm nghệ thuật và khoa học phải mất mười năm học hỏi mới có thể tạo ra một phát hiện lớn. Rất nhiều nhà khoa học đi đúng theo quy luật này.
Chẳng hạn Charles Darwin bắt đầu làm khoa học từ thời đại học. Mười năm sau, vào năm 1838, ông nảy ra ý tưởng về chọn lọc tự nhiên. Albert Einstein trăn trở về tốc độ ánh sáng. Mười năm sau, vào năm 1905, ông công bố thuyết tương đối hẹp. Còn Tim Berners-Lee viết chương trình máy tính đầu tiên kiểu như web. Khoảng mười năm sau, vào năm 1990, ông phát minh ra máy chủ và trình duyệt, đặt nền móng cho World Wide Web.
Riêng Isaac Newton là ngoại lệ. Hai nhà sử học khoa học Jed Z. Buchwald và Mordechai Feingold đã viết một cuốn sách về ông: The Winding Trail to Newton's Principia Mathematica.
Hai tác giả dành nhiều thập kỷ nghiên cứu các văn bản của Newton, đọc bản thảo và sách của ông. Nhờ đó, họ tái hiện quá trình ra đời tác phẩm nổi tiếng nhất của Newton là Philosophiae Naturalis Principia Mathematica, gọi tắt là Principia Mathematica. Newton viết sách bằng tiếng Latin, gồm ba tập, xuất bản lần đầu năm 1687. Trong đó, ông trình bày các định luật chuyển động và định luật vạn vật hấp dẫn.
Buchwald và Feingold kể lại: những năm 1665-1666, dịch hạch bùng phát ở London. Newton làm việc gần như một mình tại trang trại Woolsthorpe của gia đình, nằm ở phía bắc Đại học Cambridge, nơi ông theo học. Người ta thường gọi quãng thời gian này là năm kỳ diệu của ông. Mới 23 tuổi, ông đã có ba phát hiện lớn.
Về toán học, ông đặt nền móng cho phép tính vi phân và tích phân, công cụ giải những bài toán khó về chuyển động và hình học. Về vật lý, khi thấy một quả táo rơi từ trên cây xuống, ông nghĩ rằng có một lực vô hình kéo mọi vật về phía Trái Đất. Chính lực đó cũng quyết định quỹ đạo của Mặt Trăng. Sau này ông xây dựng nên định luật hấp dẫn từ ý tưởng đó. Về quang học, ông làm thí nghiệm với lăng kính thủy tinh trong phòng tối và chứng minh ánh sáng trắng gồm nhiều màu sắc khác nhau.
Điều đặc biệt là năm kỳ diệu đến rất sớm. Newton còn chưa học toán hay vật lý đủ mười năm. Buchwald và Feingold không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy ông học toán và khoa học ở trường phổ thông. Năm 1661, ông vào Trinity College ở Cambridge với tư cách sinh viên. Người hướng dẫn muốn ông trở thành mục sư của Giáo hội Anh. Ông chủ yếu học các môn khoa học nhân văn.
Đọc chương trình học và những tài liệu cũ của ông, hai tác giả cho rằng phải đến năm học cuối, 1664-1665, Newton mới bắt đầu nghiêm túc với khoa học. Đó chỉ là một năm trước khi dịch hạch bùng phát. Vì dịch bệnh, ông rời Cambridge về sống một mình ở nhà.
Newton không chỉ nằm ngoài quy tắc mười năm. Ông là một ngoại lệ cực kỳ hiếm. Cũng có những ngoại lệ khác, ví dụ năm 1925, Werner Heisenberg mới 23 tuổi. Sau năm năm học vật lý, ông xây dựng cơ học ma trận, một nền tảng của lý thuyết lượng tử. Năm 1927, Paul Dirac 25 tuổi. Sau khoảng sáu năm học toán ứng dụng, ông xây dựng phương trình tương đối tính cho electron, từ đó tiên đoán positron và phản vật chất. Nhưng Heisenberg thời đó có hai người thầy rất giỏi là Max Born và Niels Bohr. Còn Dirac trước đó đã học ba năm kỹ thuật điện. Trong khi Newton hầu như chỉ nghiên cứu một mình.
Không nêu giả thuyết nếu chưa kiểm chứng
Newton đã làm nên những phát hiện huyền thoại bằng cách nào? Năm 1726, không lâu trước khi qua đời, Newton ngồi trong một khu vườn đầy cây táo ở London và kể cho William Stukeley nghe câu chuyện quả táo. Stukeley sau đó ghi lại. Cuốn Memoirs of Sir Isaac Newton's Life của ông ra mắt năm 1752.
Câu chuyện như sau: năm 1666, Newton ngồi dưới những cây táo ở trang trại gia đình và trầm ngâm. Ông thấy một quả táo rơi thẳng xuống đất. Ông chợt hiểu ra Trái Đất hẳn đã hút quả táo. Lực đó phải xuất phát từ tâm Trái Đất. Nếu mọi vật chất đều như nhau, ông nghĩ, thì lực này phụ thuộc vào khối lượng. Tức là Trái Đất hút quả táo, nhưng quả táo cũng hút Trái Đất.
Newton suy nghĩ tiếp và đi đến kết luận: lực hút mà ông gọi là hấp dẫn tồn tại ở khắp nơi trong vũ trụ. Stukeley viết: cứ thế từng bước một, Newton bắt đầu dùng lực hấp dẫn để giải thích chuyển động của Trái Đất và các thiên thể.
Các sử gia soi kỹ cách Newton làm việc và rất ấn tượng: ông cảm nhận chuyển động của thế giới một cách trực tiếp. Cứ như thể ông có thể nhìn và chạm vào nó. Ông vẽ các đường nét và hình phác thảo để thể hiện những lực đẩy và kéo các vật. Ông dùng đại số và hình học Hy Lạp như công cụ để phân tích lực và chuyển động. Ông quan sát thực tế rất nhiều, nhưng ít xây dựng nền tảng lý thuyết cho mô hình của mình.
Vì coi quan sát quan trọng hơn lý thuyết, Newton đôi khi vướng tranh cãi. Câu nói nổi tiếng nhất của ông là: Tôi không đặt ra giả thuyết. Nguyên văn tiếng Latin là Hypotheses non fingo. Ông viết câu này trong lần tái bản thứ hai của Principia Mathematica năm 1713. Ý ông là mình không muốn đoán mò, vì thí nghiệm chưa cho ông biết cơ chế thực sự của lực hấp dẫn.
Trong lần tái bản thứ ba năm 1726, ông nhắc lại điều đó. Ông nói thêm: giả thuyết không có chỗ trong triết học thực nghiệm, dù là giả thuyết siêu hình hay vật lý, thần bí hay cơ học.
