Lieder gegen Hunger und Unwissenheit
Bài ca chống đói, diệt dốt sau ngày độc lập
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Ho So Nhan Vat.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/19
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Bài ca giúp sức cho nhà nước mới
Sau khi giành độc lập, nhà nước Việt Nam non trẻ đối mặt với muôn vàn khó khăn. Người dân đói khổ. Rất nhiều người không biết chữ. Chính phủ muốn giải quyết những vấn đề này và gọi chúng là "giặc đói" và "giặc dốt".
Chỉ hô khẩu hiệu thì không đủ. Cần một ngôn ngữ khác để chạm tới mọi người. Âm nhạc đã làm được điều đó. Sau Cách mạng Tháng Tám, hàng loạt ca khúc mới ra đời. Những bài hát ấy đưa chủ trương của chính phủ đến với quần chúng, ở cả miền Bắc lẫn miền Nam, và kéo dài trong nhiều năm.
Chính phủ với nhiều nhiệm vụ nặng nề
Một ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, chính phủ họp phiên đầu tiên vào tháng Chín năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu sáu nhiệm vụ quan trọng của nhà nước mới. Trong đó, hai việc cấp bách nhất là diệt giặc đói và diệt giặc dốt. Về sau, khẩu hiệu được nêu rõ là: "Diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm".
"Ai xót thương nòi giống Việt Nam?"
Nạn đói năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm
Ngay sau cách mạng, phong trào chống đói được phát động. Nhiều văn nghệ sĩ hưởng ứng.
Năm đói một nghìn chín trăm bốn mươi lăm cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Các nhà văn đã viết về thảm họa này. Như Nguyễn Hồng với Địa ngục và lò lửa, Kim Lân với Vợ nhặt, Văn Cao với Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc. Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh thì ghi lại bằng hình ảnh.
Trong âm nhạc, số ca khúc viết trực tiếp về nạn đói lại rất ít. Bài được biết đến nhiều nhất là Con đò đưa xác (tạm dịch: Con đò chở người chết). Nhiều người nghĩ nhạc sĩ Ngọc Bích là tác giả, nhưng thực ra có lẽ nghệ sĩ Ngọc Toản của đoàn kịch Kim Chung đã sáng tác vào năm một nghìn chín trăm bốn mươi sáu. Phần lời do Nguyễn Văn Đức viết. Sau này bài hát nổi tiếng qua giọng ca Thanh Thúy ở Sài Gòn. Giọng hát của bà đầy ai oán. Lời ca viết: "Con đò đưa xác trôi theo dòng nước đắng cay về đâu? Ôi con tôi còn quá nhỏ mà đã chết vì đói rét. Ai khóc than não nề trong gió lạnh?"
Bài hát "Miếng khi đói, gói khi no"
Chỉ có duy nhất một ca khúc kêu gọi trực tiếp giúp nhau chống đói. Đó là Miếng khi đói, gói khi no của nhạc sĩ Thẩm Oánh. Bài hát đăng trên tạp chí Khuyến Nhạc số thứ hai, ra tháng Giêng năm một nghìn chín trăm bốn mươi sáu.
Khuyến Nhạc là tạp chí âm nhạc đầu tiên do người Việt thực hiện, ra mắt vào tháng Mười Hai năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm. Trang đầu ghi rõ: "Cơ quan cổ động cho nền nhạc Việt". Tạp chí do nhóm Hội Khuyến Nhạc xuất bản. Hội này đã hoạt động ở Hà Nội từ một năm trước, gồm các thành viên Thẩm Oánh, Nguyễn Văn Giáp và Nguyễn Hữu Hiếu. Nhóm còn mở một trường dạy nhạc, dạy ký âm, piano, vĩ cầm, guitar và saxophone. Trường khai giảng vào tháng Hai năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn.
Phong cách của Khuyến Nhạc khá tao nhã, mang màu sắc nhạc salon. Điều này khác hẳn dòng nhạc cách mạng trên các tờ Tiên Phong hay Cứu Quốc của Việt Minh.
Dù xuất thân từ tầng lớp trên, Thẩm Oánh rất xót xa trước nỗi đau của nạn nhân nạn đói. Ông viết:
"Kìa trông! Bao người đi trên đường như những bóng ma. Thân gầy yếu lê bước trong gió mưa, trông thật đáng thương. Đây những đứa con Việt Nam! Ta yêu thương nhau, vốn một nhà từ bao đời. Ai xót thương nòi giống Việt Nam? Ta sống trong nghèo khổ đã bao lâu! Cùng một dòng máu, ta giúp nhau khi khốn khó, đỡ nhau lúc nguy nan. Kìa trông! Dân ta đang đói! Ai no đủ xin hãy mau giúp. Miếng khi đói, gói khi no."
Thẩm Oánh là một trong những người đầu tiên viết tân nhạc. Ông đã sáng tác và biểu diễn từ cuối những năm ba mươi. Ông đứng đầu nhóm Myosotis (Hoa Lưu Ly) cùng Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Nguyễn Trần Du và những người khác. Nhạc của nhóm mang vẻ lãng mạn, chịu ảnh hưởng âm nhạc Pháp. Có người khi ấy chê rằng "chỉ là nhạc salon, nhạc bỏ túi" (Phạm Duy viết trong hồi ký). Thời gian đầu, nhiều bài của nhóm còn viết lời bằng tiếng Pháp. Nhưng sau này, Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước tìm về đề tài và chất liệu truyền thống, từ đó để lại những tác phẩm có giá trị.
Miếng khi đói, gói khi no là ca khúc gắn với một vấn đề xã hội nóng hổi. Bài hát cho thấy Thẩm Oánh cũng có thể viết về những đề tài gai góc. Lời ca kêu gọi mọi người đùm bọc nhau vì cùng chung một mái nhà. Không chỉ kể nỗi khổ, bài hát còn giục giã tinh thần tương thân tương ái.
"Bạn ơi hãy đến lớp học"
Phong trào chống nạn mù chữ
Phong trào "Diệt giặc dốt" có nền tảng vững chắc từ trước. Hội Truyền bá quốc ngữ đã được thành lập vào năm một nghìn chín trăm ba mươi tám. Sau cách mạng, hội trở thành Nha Bình dân học vụ, trực thuộc Bộ Giáo dục của nhà nước mới. Cơ quan này ra đời vào tháng Chín năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm.
Phong trào nhanh chóng đạt kết quả. Các lớp học áp dụng phương pháp "i-tờ". Với cách này, học viên bắt đầu từ hai chữ cái đơn giản nhất. Phương pháp do Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giáp và Vũ Hy Trác đề xướng. Chỉ sau một năm, cả nước đã mở được bảy mươi lăm nghìn lớp học.
Một ví dụ về âm nhạc cổ động cho phong trào là bài Cô Tú của Long Châu, sau này được nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế in ấn. Những bài hát như vậy mời gọi mọi người đến lớp để học đọc, học viết.
