Unkraut als Verbündeter der Kaffeebauern
Cỏ dại lại giúp nông dân trồng cà phê
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Nen Tang Kien Tao.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/13
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên từng tốn rất nhiều công sức để diệt cỏ dại. Rồi họ bỏ hẳn việc đó. Chi phí giảm xuống, nhưng sản lượng và chất lượng cà phê vẫn giữ nguyên! Cỏ dại không phải kẻ thù, mà là người bạn lâu nay bị lãng quên.
Những năm gần đây, có thể thấy sự thay đổi rõ rệt ở Đắk Nông, Đắk Lắk và Lâm Đồng: Trước kia nhiều nông dân phun thuốc hóa học diệt cỏ. Đất đỏ trơ trụi, sạch bong. Nay họ để một thảm cỏ xanh dưới gốc cây. Thảm cỏ này mang lại nhiều lợi ích:
- Giữ đất, chống xói mòn khi mưa lớn.
- Nuôi dưỡng nhiều sinh vật trên và dưới mặt đất. Nhờ đó cà phê ít sâu bệnh hơn.
- Tạo mùn cho đất.
- Đất tơi xốp và ẩm hơn. Nông dân nào cũng nhìn thấy ngay.
Sự thay đổi này không tự nhiên mà có. Người nông dân nay đã nghĩ khác về thiên nhiên trong vườn nhà.
Tháng 5/2025, nhóm chúng tôi thăm các vườn cà phê ở Quảng Sơn, Nam Nung thuộc tỉnh Đắk Nông và ở Di Linh thuộc tỉnh Lâm Đồng. Đây là thời điểm khép lại 5 năm của sáng kiến “Sử dụng vật tư có trách nhiệm cho cà phê”. Sáng kiến này do Global Coffee Platform (GCP) triển khai từ năm 2020 tại năm tỉnh ở Tây Nguyên. Chúng tôi không bao giờ quên câu nói của ông Bùi Văn Lương. Ông có 2 ha cà phê ở thôn Tân Lập, Nam Nung: “Người ta chê vườn có cỏ là xấu. Tôi thì thấy vườn không có cỏ mới là xấu.”
Lúc đó ai cũng rất ngạc nhiên. Bởi lâu nay cỏ vẫn bị coi là kẻ thù của cây ăn trái và cà phê. Cỏ nghĩa là tranh dinh dưỡng, gây bệnh, khiến nông dân tốn nhiều tiền mua thuốc diệt cỏ. Nhiều loại hóa chất là vấn đề lớn với mọi nông dân.
Người Pháp đưa cà phê vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 19. Suốt hàng trăm năm, cà phê lớn lên dưới tán rừng hay cây che bóng. Nhưng những năm 1990-2000 giá lên rất cao. Gần như toàn bộ cây che bóng bị chặt bỏ. Diện tích mở rộng rất nhanh. Mật độ cây cà phê dày hơn, nắng chiếu trực tiếp nhiều hơn. Nhờ vậy sản lượng tăng lên. Hình thành kiểu canh tác độc canh chỉ một loại cây. Kiểu này cần phân bón, thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Nhờ đó Việt Nam có vị thế vững chắc: Chúng ta chiếm 16% sản lượng cà phê thế giới. Xuất khẩu đạt 5 tỷ đô la Mỹ. Năng suất khoảng 3 tấn/ha. Đây là một trong những mức cao nhất thế giới.
Nhưng lạm dụng hóa chất để lại hậu quả rõ ràng: Đất bị mất, thiếu nước và nước bị ô nhiễm, đa dạng sinh học suy giảm, sức khỏe con người cũng bị ảnh hưởng vì nhiều hóa chất.
Bước ngoặt từ một lệnh cấm
Thay đổi bắt đầu từ glyphosate. Hoạt chất này được cho phép ở Việt Nam từ năm 1994. Cuối những năm 2010 có tới 104 sản phẩm chứa glyphosate. Với nông dân trồng cà phê, nó gần như hoàn hảo: rẻ, nhanh, sạch cỏ, đỡ tốn công. Nhưng vấn đề là: Hóa chất này khiến đất quanh năm trơ trụi, không được che phủ. Đất dần chai cứng. Thiếu chất hữu cơ, các sinh vật nhỏ trong đất yếu đi. Vốn dĩ chính các sinh vật này bảo vệ cây và đất. Rễ cà phê cũng yếu đi trong đất cứng và vì dính thuốc trực tiếp. Khi đó tuyến trùng dễ xâm nhập và phá hại rễ.
Năm 2019, Bộ Nông nghiệp đưa glyphosate ra khỏi danh mục được phép sử dụng. Thị trường cũng gây sức ép: Liên minh châu Âu quy định mức dư lượng hóa chất tối đa (MRL). Dư lượng giờ không chỉ là chuyện kỹ thuật, mà là điều kiện để vào thị trường EU. GCP lấy mẫu cà phê và xét nghiệm trong ba năm. Tỷ lệ mẫu có glyphosate vượt 0,1 mg/kg giảm từ 56% niên vụ 2020-2021 (379 mẫu) xuống 17,5% niên vụ 2021-2022 (160 mẫu) và chỉ còn khoảng 1,2% niên vụ 2022-2023 (252 mẫu). Nhưng lệnh cấm chỉ trả lời câu hỏi “không dùng gì?”. Câu hỏi còn lại vẫn nguyên: Giải pháp thay thế thuốc hóa học nhanh gọn trên những nông trại cà phê rộng lớn là gì? Cỏ vẫn mọc tiếp. Nếu nông dân không có cách làm rẻ mà hiệu quả, họ sẽ tìm đến chợ đen hoặc loại hóa chất khác chưa bị cấm. Sáng kiến của GCP cùng nhiều tổ chức quốc tế làm việc đúng ở điểm này.
Ba việc không công của cỏ dại
GCP không chọn loại thuốc “xanh hơn”. GCP chọn cách quản lý cỏ khác: Giữ một thảm cỏ sống trên mặt đất (chỉ khống chế chiều cao của cỏ). Kỹ thuật rất đơn giản: Cắt cỏ và để lại khoảng 10-20 cm trên mặt đất. Không cắt sát gốc và không phun thuốc. Cỏ đồng thời làm ba việc. Cả ba việc này trong vườn độc canh đều phải tốn tiền mới có:
- Che mát mặt đất, bớt bốc hơi nước nên tưới ít hơn.
- Giữ đất chặt, đất dốc ở Tây Nguyên không bị rửa trôi.
- Nuôi dưỡng đa dạng sinh vật, làm chỗ trú cho thiên địch của sâu hại.
Ông Lương ở Tân Lập còn đi xa hơn một bước: Ông bón phân không phải thẳng cho cà phê, mà cho cỏ. Rồi ông cắt cỏ và để xác cỏ phủ trên mặt đất. Khi cỏ phân hủy, dinh dưỡng trở lại đất. Cách này cây dễ hấp thu và an toàn hơn. Ông nói: “Vườn không cỏ thì đất cứng, vườn có cỏ thì đất tơi.” Ông so vườn mình với các vườn xung quanh.
Kỹ thuật này không phải do dự án của GCP nghĩ ra. Từ những năm 1990, một số nông dân sáng tạo ở huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã giữ cỏ tự nhiên trong vườn, không phá bỏ nữa. Nhiều gia đình ở Quảng Sơn kể: Từ năm 2014 họ không dùng thuốc nữa mà chuyển sang máy cắt. Họ học nhau, nhưng chưa hiểu hết vì sao cỏ lại tốt cho đất. Khoảng cách từ “hiểu” đến “làm” và “làm tốt hơn” chính là điều các khóa tập huấn của đối tác GCP lấp đầy (CDC Đắk Lắk, các công ty thu mua và xuất khẩu cà phê, các nhóm nghiên cứu...). Và việc này tạo ra khác biệt quan trọng: Khi hiểu nguyên lý, nông dân đủ tự tin làm trong vườn mình rồi kể lại cho người khác. Trong khảo sát của chúng tôi với 54 hộ, chủ yếu ở Đắk Nông, Đắk Lắk và Lâm Đồng, 98% nói đã được tập huấn về biện pháp không hóa chất, và 85% về sử dụng vật tư có trách nhiệm. Hơn 59% nay không còn dùng thuốc diệt cỏ, 23% dùng máy cắt và chỉ phun một lần trước thu hoạch cho dễ hái. Khoảng 74% nói hệ sinh thái trong vườn “khỏe hơn” hoặc “khỏe hơn nhiều” sau cách làm mới.
Sau ba năm giữ thảm cỏ, năng suất vườn ông Lương tăng từ dưới 3 tấn/ha (2022) lên 3,5 tấn (2024). Trái chín đều, tỷ lệ hạt chắc cũng nhiều hơn.
