Vietnamesische Eunuchen in der Ming-Zeit, Teil 2
Hoạn quan người Việt thời Minh - Phần 2
Bài đọc được chuyển ngữ và đơn giản hóa để học tiếng Đức. Nội dung gốc thuộc Tia Sang - Van Hoa Xa Hoi.
Bôi đen một từ hoặc cụm từ để tra nghĩa, dịch, highlight hoặc thêm ghi chú.
Tiến độ đọc bài
Đoạn 1/29
Đọc tiếng Đức trước. Khi cần, mở bản dịch ngay dưới từng đoạn.
Xem bản dịch tiếng Việt đầy đủ
Câu chuyện này kể về bốn hoạn quan gốc Việt. Họ cùng sống trong một giai đoạn đầy biến động của triều Minh.

Ảnh: Biến cố Thổ Mộc Bảo gây chấn động lớn trong triều Minh. Trong ảnh là cảnh Minh Anh Tông bị bộ tộc Ngõa Lạt bắt giữ. Trích phim "Nữ Y Minh Phi Truyện" (The Imperial Doctress) năm 2016.
Khởi đầu vào thế kỷ 15
Đầu thế kỷ 15, nhà Minh đem quân đánh Đại Việt. Tướng Trương Phụ là một danh tướng chủ chốt của triều Minh. Ông thắng nhà Hồ trong cuộc chiến năm 1406-1407, rồi tiếp tục đánh nhà Trần.
Trong cuộc chiến này, theo lệnh của Minh Thành Tổ (Chu Đệ), Trương Phụ đưa về Trung Quốc nhiều thiếu niên thông minh người Đại Việt. Những người này trở thành hoạn quan trong cung. Hai người trong số đó là Phạm Hoằng và Nguyễn Lãng. Cuộc đời họ bước sang trang mới, phụng sự một triều đại khác và những vị vua mới. Nhưng ở nơi mới, họ lại đối mặt với khủng hoảng.
Biến cố Thổ Mộc Bảo
Lịch sử Trung Quốc từng chứng kiến hai cuộc khủng hoảng lớn khi hoàng đế bị ngoại tộc bắt giữ. Đó là biến cố Tĩnh Khang năm 1127 thời Bắc Tống và biến cố Thổ Mộc Bảo năm 1449 thời Minh. Sau biến cố Tĩnh Khang, Bắc Tống sụp đổ. Còn nhà Minh vẫn đứng vững sau Thổ Mộc Bảo.
Biến cố Thổ Mộc Bảo diễn ra như sau: Đại thái giám Vương Chấn xúi Minh Anh Tông thân chinh ra phía bắc đánh Mông Cổ (bộ tộc Ngõa Lạt). Đại quân nhà Minh cồng kềnh, hành quân chậm, không tìm thấy địch nên định rút về. Vì tư lợi, Vương Chấn liên tục khuyên vua đổi lộ trình. Chính sự chần chừ này đã tạo cơ hội để kỵ binh Mông Cổ ập tới, bao vây toàn bộ quân Minh tại pháo đài Thổ Mộc Bảo.
Cuối cùng đại quân bị tiêu diệt. Nhiều sử liệu ghi quân số lên tới 500.000 người. Rất nhiều đại thần và tướng lĩnh tử trận, trong đó có cả Vương Chấn và Trương Phụ. Minh Anh Tông bị bắt.
Khi biến cố xảy ra, Phạm Hoằng đã là một đại thái giám. Sách Minh Sử (quyển 304) chép rằng ông ăn nói lễ độ, nhã nhặn nên được Minh Thành Tổ (Chu Đệ) rất quý mến. Vua cho ông đi học, đọc kinh sách và luyện chữ. Ban đầu ông hầu Minh Nhân Tông (Chu Cao Sí, con trưởng của Chu Đệ) khi vị này còn là thái tử. Đến thời Tuyên Đức (Chu Chiêm Cơ, con của Chu Cao Sí), ông được bổ nhiệm làm thái giám ở Ty Lễ Giám. Ông và thái giám Kim Anh cùng được ban kim bài miễn tử và ấn bạc để vinh danh.
Ty Lễ Giám là cơ quan đứng đầu các hoạn quan. Nơi này quản lý công việc trong cung, văn thư, ấn tín và việc truyền chỉ dụ của hoàng đế.
Tháng 8 năm 1449, Vương Chấn khuyên vua thân chinh. Phạm Hoằng theo hầu vua ra trận và tử nạn tại Thổ Mộc Bảo.

Ảnh: Sơ đồ biến cố Thổ Mộc Bảo năm 1449. Quân Minh tiến đến Đại Đồng rồi chủ trương rút lui. Lẽ ra đại quân phải rút nhanh qua cửa Tử Kinh Quan để vào sau Trường Thành, nhưng đại thái giám Vương Chấn vì lợi riêng đã nhiều lần giục vua đổi đường, khiến thời cơ bị lỡ. Kết quả, kỵ binh Mông Cổ đuổi kịp, bao vây và tiêu diệt hoàn toàn quân Minh tại Thổ Mộc Bảo, Minh Anh Tông bị bắt.
Cuộc giữ thành Bắc Kinh
Phạm Hoằng tử trận ngoài mặt trận. Trong khi đó, hai hoạn quan gốc Việt khác lại ở trong cung tại Bắc Kinh, trong tình thế hoàn toàn khác. Đó là Kim Anh và Hưng An.
Họ ở ngay tâm điểm khủng hoảng chính trị năm 1449. Minh Anh Tông đang bị người Ngõa Lạt giam giữ, kinh thành Bắc Kinh có nguy cơ thất thủ.
Minh Sử chép Kim Anh và Hưng An là những hoạn quan có địa vị cao trong triều. Hưng An phối hợp với các đại thần để lo việc giữ kinh thành.
Tin bại trận ở Thổ Mộc Bảo về tới Bắc Kinh khiến cả triều đình hoang mang. Thành Vương Chu Kỳ Ngọc, em trai của hoàng đế, triệu tập bá quan bàn kế sách. Quan Từ Hữu Trinh quá sợ hãi, quỳ xuống tâu nên dời đô về Nam Kinh để tránh quân Mông Cổ.
Trước nguy cơ dời đô như thời Bắc Tống, hai đại thái giám của Ty Lễ Giám hành động ngay. Sử liệu thời Minh chép Hưng An, có nguồn ghi là Kim Anh, đã quát lớn giữa triều: "Kẻ nào bàn dời đô sẽ bị chém đầu!" Sau đó ông lập tức vào gặp Hoàng thái hậu, xin lập Thành Vương lên ngôi gấp, tức Cảnh Thái Đế (Minh Đại Tông). Nhờ vậy lòng người yên ổn trở lại và triều đình khẳng định quyết tâm giữ Bắc Kinh.
Sau khi Cảnh Thái Đế lên ngôi, Hưng An nhận nhiệm vụ mới. Ông cùng Binh bộ Thượng thư Vu Khiêm và tướng Thạch Hanh tổ chức phòng thủ kinh thành. Họ gấp rút huy động nhân lực và vật tư cho cuộc chiến. Trong trận chiến sống còn bảo vệ Bắc Kinh năm 1449, Vu Khiêm lo việc bên ngoài, còn các hoạn quan quán xuyến bên trong, phối hợp chặt chẽ với nhau.
